I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu tổng quan và quá trình lập đồ án quy hoạch chung xây
dựng thủ đô Hà nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050
Việt Nam hiện đang trở thành một quốc gia có tốc độ phát triển nhanh và mạnh
mẽ. Dự kiến tăng trưởng kinh tế quốc gia giai đoạn 15 năm tới sẽ duy trì 7% mỗi
năm. Dân số đô thị sẽ tăng từ xấp xỉ 30% hiện nay lên trên 50% vào năm 2025.
Đảng và Chính phủ đã chỉ đạo yêu cầu đô thị hoá và phát triển đô thị phải đáp
ứng được mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội theo hướng CNH-HĐH và phân bố dân
cư hài hoà và bền vững. Hiện nay, Chính phủ đang có chương trình chiến lược ưu
tiên phát triển Hà Nội thành một Thủ đô có quy mô lớn, tầm cỡ quốc tế, là trung
tâm chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo
dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Ngày 29/05/2008 Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam đã ra Nghị quyết 15/2008/QH12 về việc mở rộng địa giới hành chính
thủ đô Hà Nội, gồm Thành phố Hà Nội cũ với tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh
tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích
tự nhiên 3.344,6km2, dân số 6.350.000 dân. Ngày 22/12/2008 Thủ tướng Chính phủ
đã ra Quyết định số 1878/QĐ-TTg phê duyệt Nhiệm vụ đồ án quy hoạch chung xây
dựng Thủ đô Hà Nội mở rộng đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Thực hiện Nghị quyết số 15/2008 và Quyết định số 1878/QĐ-TTg, Bộ Xây dựng đã tổ
chức tuyển chọn tư vấn quốc tế lập quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội. Ngày
23/09/2008, tại văn bản số 1585/TTg-KTN, Chính phủ đã chấp thuận lựa chọn Liên
danh tư vấn quốc tế PPJ (Perkins Eastman – Hoa Kỳ, POSCO E&C và JINA – Hàn
Quốc) là đơn vị lập quy hoạch.
Sau quá trình nghiên cứu đồ án được thực hiện theo đúng tiến độ, Bộ Xây dựng đã
báo cáo thường trực Chính phủ 3 lần (lần 1 ngày 24/04/2009, lần 2 ngày
21/08/2009, lần 3 ngày 26/11/2009). Trong quá trình nghiên cứu đồ án, nội dung
đồ án đã được tiếp tục nghiên cứu chi tiết hơn và tập trung vào các kết luận
cuộc họp lần 1, 2, 3 của Thủ tướng Chính phủ tại các thông báo lần lượt số
144/TB-VPCP, 279/TB-VPCP, 348/TB-VPCP, 29/TT-VPCP. Trong quá trình triển khai
tổ chức nghiên cứu lập quy hoạch, Bộ Xây dựng phối hợp với Ủy ban nhân dân thành
phố Hà Nội đã chỉ đạo Liên danh tư vấn quốc tế PPJ làm việc với các Bộ, ngành
liên quan và tổ chức lấy ý kiến chuyên gia, các nhà khoa học trong nước và quốc
tế, các Hội nghề nghiệp (Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Hiệp hội các đô thị Việt
Nam, Hội Quy hoạch và phát triển đô thị Việt Nam, Tổng hội Xây dựng, Hội Khoa
học lịch sử Việt Nam, Hội Di sản văn hóa, Hội Môi trường xây dựng…). Việc tổ
chức lấy ý kiến các Hội nghề nghiệp đã, đang và sẽ được thực hiện nhiều lần để
Tư vấn tiếp thu, bổ sung vào đồ án trước khi trình Quốc Hội. Đồ án được đăng
tải trên trang Web và tổ chức triển lãm lấy ý kiến góp ý của đông đảo nhân dân.
Sau các lần báo cáo Chính phủ cho đến nay, đồ án Quy hoạch chung Hà Nội đang
tiếp tục hoàn thiện để trình Hội đồng thẩm định cấp Nhà nước. Hồ sơ đồ án bao
gồm 468 trang thuyết minh tổng hợp, 100 trang thuyết minh tóm tắt. Hồ sơ bản vẽ
gồm 81 bản, 262 trang phụ lục Đánh giá hiện trạng và kinh nghiệm quốc tế. Trong
thời lượng của trang Web, bước đầu Bộ xây dựng phối hợp với UBND Thành phố Hà Nội
chỉ đạo các đơn vị chức năng giới thiệu tóm tắt các nét chính của đồ án. Bộ xây
dựng và UBND Thành phố Hà nội sẽ tiếp tục cần nhật, đăng tải các vấn đề mà độc
giả quan tâm. Chung tôi rất mong muốn nhận được các ý kiến đóng góp của nhân
dân để đồ án được hoàn thiện.
2. Tính chất đô thị
- Là trung tâm hành chính – chính trị của cả nước.
- Là trung tâm văn hóa khoa học công nghệ và giáo dục quan trọng
của cả nước.
- Là trung tâm kinh tế – dịch vụ và thương mại khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương.
3. Mục tiêu quy hoạch
- Tầm nhìn:
Xây dựng và Phát triển Thủ đô Hà Nội trở thành Thành phố
Xanh – Văn hiến – Văn Minh – Hiện đại, trên nền tảng phát triển bền
vững, Hà Nội trong tương lai sẽ phát triển năng động và hiệu quả, là biểu
tượng cho cả nước, đóng vai trò trung tâm hành chính- chính trị Quốc gia, trung
tâm lớn của Quốc gia về văn hoá – khoa học – giáo dục – kinh tế, một trung tâm
du lịch và giao dịch Quốc tế có tầm khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Thủ đô Hà
Nội sẽ là nơi có môi trường sống tốt nhất, sinh hoạt giải trí với chất lượng
cao và có cơ hội đầu tư thuận lợi.
- Tương lai mong muốn xây dựng và phát triển Hà Nội trở thành:
Thành phố Xanh: Phát triển bền vững về môi trường
Thành phố Văn Hiến: Cân bằng giữa bảo tồn và phát
triển
Thành phố Văn Minh –
Hiện đại: Phát triển bền
vững trên nền tảng kinh tế tri thức
- Mục tiêu chính của quy hoạch
• Nâng cao vai trò vị thế, tính cạnh tranh của Hà Nội, xứng đáng
là Thủ đô của một nước có trên 100 triệu dân, phát triển bền vững và hội nhập
với nền kinh tế thế giới.
• Xây dựng hình ảnh của Hà Nội, một đô thị lịch sử, văn hoá truyền thống, cảnh
quan, kiến trúc đặc trưng, phát triển và bảo tồn được đặc thù riêng của Hà Nội.
• Định hướng, thực hiện triển khai các chủ trương chính sách, chiến lược phát
triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng của Quốc gia & Thủ đô.
• Xây dựng mô hình chính quyền đô thị, tự chủ và phân quyền hợp lý cho các đô
thị trực thuộc nhằm tạo năng động trong công tác quản lý đô thị và thu hút đầu
tư.
II. CÁC NỘI DUNG QUY HOẠCH
2.1 Đặc điểm tình hình xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội
Trong suốt 10 thế kỷ (từ năm 1010-2010) lịch sử hình thành và phát triển của
thủ đô Hà Nội gắn liền với quá trình đô thị hoá. Khu thành cổ, khu 36 phố
phường, khu phố Pháp qua các thời kỳ đều được xác định là trung tâm
Hà Nội cổ hay đô thị lõi lịch sử, là trung tâm văn hoá – chính trị – kinh
tế, nơi tập trung các cơ quan đầu não của nhà nước Việt Nam, nơi diễn ra những
hoạt động văn hoá mang tầm quốc gia, khu vực và quốc tế. Giai đoạn từ Hòa
bình lập lại đến nay, Hà Nội đã nhiều lần quy hoạch lại thành phố với
những nguyên tắc là văn minh, hiện đại và môi trường trong sạch. Trong đó Quy
hoạch Hà Nội năm 1998 với ý tưởng phát triển hai bờ sông Hồng và hành lang xanh
dọc sông Nhuệ là thành phố trung tâm trong chùm đô thị Hà Nội. Sau hơn10 năm
thực hiện đến năm 2010, có thể nhận thấy:
- Nhiều khu đô thị mới, các công trình HTKT, các công trình đầu mối quan trọng
như: cầu, cống, đường vành đai đô thị, hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý
rác, nước thải… từng bước đã được triển khai xây dựng theo quy hoạch.
- Là cơ sở quan trọng để lập QHCT các Quận, Huyện, các quy hoạch chi tiết, lập
kế hoạch kêu gọi các dự án đầu tư xây dựng của nhiều lĩnh vực trên địa bàn
thành phố.
Kết quả đạt được đang làm thay đổi diện mạo bộ mặt của thành phố. Tuy nhiên, sự
phát triển và quá trình hoàn thiện bộ mặt đô thị không chỉ do quy hoạch mà nó
còn tuỳ thuộc vào nhiều điều kiện như năng lực quản lý và nguồn lực đầu tư.
Sau khi sáp nhập mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà nội, gồm Thành
phố Hà Nội cũ với tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc
huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích tự nhiên 3.344,6km2, dân số
6.448.837người (1/4/2009).
Để xây dựng các chiến lược phát triển, tạo tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế
– xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô, giải quyết các
vấn đề tồn tại trong quá trình xây dựng & phát triển đô thị hướng tới phát
triển bền vững đạt hiệu quả cao trên cả 3 lĩnh vực Kinh tế – văn hóa – môi
trường, cần thiết lập Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội.
Ranh giới lập quy hoạch Hà Nội
Phạm vi nghiên cứu trực tiếp: Bao gồm toàn bộ diện tích Thủ đô Hà Nội theo Nghị
quyết số 15/2008/QH12 về việc Điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội
tại kỳ họp thứ III Quốc hội khoá XII.
Phạm vi nghiên cứu gián tiếp: Bao gồm các tỉnh và thành phố thuộc Vùng thủ đô
Hà Nội, vùng đồng bằng sông Hồng, Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và các tỉnh
liên quan khác: Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hòa
Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ, Quảng Ninh, Thái Bình,
Thái Nguyên.
2.2. Các tồn tại trong xây dựng phát triển đô thị và những vấn đề cần giải
quyết trong quy hoạch
Hiện nay, Thủ đô Hà Nội đang đối mặt với nhiều vấn đề tồn tại trong quá
trình đô thị hóa như: Sự phát triển quá tải về các mặt dịch vụ y tế, cơ sở
giáo dục, ô nhiễm môi trường, hệ thống giao thông ùn tắc … do không kiểm soát
được việc gia tăng dân số, nhất là di dân từ các khu phụ cận vào thành phố để
tìm kiếm việc làm; Thiếu các chiến lược và chính sách kiểm soát, quản lý đô
thị gây lãng phí tài nguyên đất đai và nguồn lực đầu tư.
Quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch Hà Nội đến nay có nhiều vấn đề cần
tiếp tục nghiên cứu để giải quyết, gồm có 15 điểm chính, đó là:
1. Chưa hình thành được các trung tâm đô thị có tầm cỡ để tổ chức các sự kiện
lớn của đất nước và Thủ đô như các không gian văn hóa, vui chơi giải trí phục
vụ nhân dân Thủ đô và trong vùng.
2. Dự báo quy mô dân số và phân bố dân cư hợp lý cho Hà Nội vào năm 2030 và tầm
nhìn đến năm 2050
3. Kế hoạch bảo tồn và cải tạo Đô thị lõi lịch sử gồm Khu phố cổ, phố cũ và
các di sản, di tích khác.
4. Giải quyết các áp lực đô thị hóa đang ngày một gia tăng làm ảnh hưởng đến hệ
thống di sản văn hóa và cảnh quan của Hà Nội, quỹ đất nông nghiệp.
5. Định hướng giải quyết trên 750 dự án đầu tư xây dựng đang rà soát và cập
nhật
6. Khai thác nguồn tài nguyên sông, hồ của Hà Nội cho phát triển đô thị và kiểm
soát việc thoát nước và lũ lụt của thành phố chủ yếu tập trung ở địa bàn tỉnh
Hà Tây cũ trước khi sáp nhập.
7. Phát triển hành lang sông Hồng, tạo dựng hình ảnh cảnh quan chính của thành
phố.
8. Hệ thống giao thông đô thị cần được tiếp tục nâng cấp và mở rộng
9. Hạ tầng kỹ thuật & hạ tầng xã hội đô thị tiếp tục nâng cấp và mở rộng
10. Lựa chọn địa điểm xây dựng các trụ sở hành chính các bộ ngành nhằm giảm tải
mật độ xây dựng trong nội đô và định hướng lựa chọn địa điểm Trung tâm hành
chính quốc gia mới theo tầm nhìn sau năm 2050.
11. Xác định vị trí xây dựng các KCN chủ lực và phát triển kinh tế vùng
12. Giải quyết các vấn đề quá tải cho các dịch vụ y tế, giáo dục ở khu vực nội
đô
13. Đề xuất các chương trình nhà ở xã hội đáp ứng nhu cầu xã hội.
14. Tìm nguồn kinh phí đầu tư xây dựng
15. Thiết lập công cụ quản lý đô thị
2.3. Những kinh nghiệm quốc tế
Quy hoạch chung Hà Nội được nghiên cứu dựa trên các kinh nghiệm quy hoạch
và thiết kế của mười sáu thành phố lớn trên thế giới, thuộc các khu vực Châu
Á, Châu Âu, Trung Mỹ, Nam Mỹ và Hoa Kỳ, có các đặc điểm tương đồng với
Vùng Thủ đô Hà Nội, là: Bangkok – Thái Lan, Manila – Philippines, Bắc Kinh,
Hàng Châu, Nam Kinh, Thượng Hải – Trung Quốc, Kuala Lumpur – Malaysia, Seoul,
Hàn Quốc, Barcelona – Tây Ban Nha, Thành phố Mê-hi-cô – Mexico, Brasilia –
Brazil, Chicago, New York, Thủ đô Washington – Hoa Kỳ, Luân Đôn – Anh, Paris –
Pháp. Các chuyên giá tư vấn nước ngoài đã tổng kết có 17 kinh nghiệm
quy hoạch có thể áp dụng cho Hà Nội được chia thành bốn loại như sau:
- Tầm nhìn (Các vấn đề Phát triển đô thị):
(1) Tầm quan trọng của quy hoạch chung.
(2) Lựa chọn và thực thi quy mô và mật độ phù hợp.
(3) Tạo dựng hình ảnh của một thủ đô quốc gia với thiết kế đô thị.
(4) Kiểm soát gia tăng dân số.
(5) Phối hợp các mô hình thiết kế bền vững.
(6) Tạo dựng và thực hiện tầm nhìn.
- Cơ sở vật chất đô thị lõi (Các vấn đề cơ sở hạ tầng).
(7) Xây dựng cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội hiện đại.
(8) Phát triển một hệ thống giao thông công cộng và đường cao tốc.
(9) Hợp nhất thành phố bị chia cắt bởi một dòng sông.
(10) Kết nối thành phố với vùng.
- Tăng trưởng thông minh (các vấn đề không gian và môi trường).
(11) Biến không gian mặt nước đô thị thành tiện ích quan trọng.
(12) Xây dựng một trung tâm thương mại hiện đại.
(13) Nhà ở xã hội.
(14) Khuyến khích phát triển kinh tế.
(15) Bảo vệ di sản văn hóa, thiên nhiên và kiến trúc.
- Đặc trưng đô thị.
(16) Chọn địa điểm phù hợp cho các cơ quan Chính phủ.
(17) Thiết lập một hệ thống công viên công cộng hấp dẫn và dễ tiếp cận.
Việc quy hoạch và phát triển những thành phố toàn cầu này là minh chứng cho một
số bài học quy hoạch cụ thể cũng như các mốc quy hoạch quan trọng mà xét ở một
góc độ nào đó phù hợp với quy hoạch chung của Thủ đô Hà Nội.
2.4. Mối liên hệ vùng
Trong mối quan hệ khu vực và quốc tế, Thủ đô Hà Nội có nhiều lợi thế về vị trí
địa lý- chính trị, lịch sử phát triển lâu đời và là đô thị trung tâm quan trọng
của Việt Nam, có sức hút và tác động rộng lớn đối với quốc gia trong khu vực và
quốc tế. Việc sáp nhập mở rộng địa giới hành chính, mang lại cho Hà Nội một
vùng sinh thái rộng lớn, phong phú về tài nguyên văn hóa và cảnh quan. Tạo nên
những lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các vùng đô thị lớn trong khu vực như
vùng Nam Trung Hoa, vùng Thủ đô Băng Cốc, vùng Thủ đô Gia Các ta … khi đặt vấn
đề về phát triển Hà Nội theo hướng thủ đô Xanh – Văn hiến – Văn minh, hiện đại.
Phát triển không gian Thủ đô Hà Nội được đặt trong mối quan hệ
vùng Thủ đô Hà Nội với mối quan hệ tương hỗ hai chiều. Trong đó Thủ đô Hà Nội
tác động đến Vùng bằng việc thể hiện vai trò là đầu tàu Trung tâm tăng trưởng
kinh tế, thúc đẩy toàn vùng phát triển thông qua sự mở rộng, lan toả các hoạt
động kinh tế, đô thị hóa ra các tỉnh xung quanh thủ đô. Vùng tác động đến Thủ
đô Hà Nội bằng việc cung cấp cho Hà Nội nguồn thực phẩm, nguồn lao động, quĩ
đất phát triển cho các khu chức năng mang tính chất liên kết và chia sẻ chức
năng vùng, như:
Về phát triển hợp tác khai thác các công trình HTKT đầu mối mang tính liên
Vùng: Hà Nội là trung tâm đầu mối giao thông đối ngoại đường bộ, đường sắt,
đường hàng không quốc gia, quốc tế. Vùng Hà Nội – Hòa Bình xây dựng Nghĩa trang
liên Vùng và bảo vệ nguồn nước sông Đà. Vùng Hà Nội – Thái Nguyên – Vĩnh Phúc –
Bắc Ninh – Hưng Yên khai thác và quản lý khu xử lý CTR liên vùng. Vùng Hà Nội –
Vĩnh Phúc – Hưng Yên khai thác sông Hồng. Vùng Hà Nội – Hà Nam giải quyết tiêu
thoát nước mặt và các giải pháp bảo vệ môi trường sông Đáy.
Về Y tế: Phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu, chất lượng cao hỗ trợ cho
các cơ sở y tế đã quá tải trong nội đô Hà Nội cũ. Phát triển các trung tâm y tế
lớn tại các đô thị lớn lân cận Hà Nội như Thái Nguyên, Phủ Lý, Vĩnh Yên. Về
Giáo dục: Phát triển các trung tâm đào tạo, ưu tiên phát triển hệ thống các
trường giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề gắn với phát triển các KCN như TP Hưng
Yên, TP Phủ Lý, Khu Xuân Hòa, TP Thái Nguyên, TX Từ Sơn. Qui mô đào tạo tại Hà
Nội sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong qui mô đào tạo của Vùng. Về thương mại: Phát
triển các Trung tâm thương mại lớn, các chợ đầu mối các trung tâm trung chuyển
hàng hóa lớn (ICD) với các tỉnh có kết nối với Hà Nội qua các tuyến cao tốc
như: Khu vực Phố Nối, Văn Lâm, Văn Giang (Hưng Yên), Phúc Yên – Xuân Hòa, khu
vực Phổ Yên (Thái Nguyên), khu vực Từ Sơn (Bắc Ninh); khu vực Đồng Văn (Hà Nam)
gắn với cao tốc Bắc Nam. Về du lịch: Kết nối các hoạt động du lịch trong thành
phố với các Trung tâm du lịch lớn của Vùng như: Khu vực phía Bắc và Tây Bắc có
Vùng ATK, hồ Núi Cốc, Vùng Tam Đảo, Tây Thiên; Khu vực phía Đông và Đông Bắc có
Đền Hùng, Thanh Thủy, hồ sông Đà, Mai Châu; Khu vực phía Nam có Hương Sơn, Tam
Chúc, Phố Hiến; Khu vực phía Đông có Tiên Sơn…Về Công nghiệp: Hạn chế phát triển
các KCN lớn và chuyển dần các khu công nghiệp trong nội thị ra ngoại thị. Trong
thành phố ưu tiên các loại hình các khu CN công nghệ cao và các tổ hợp Đô
thị-CN-Thương mại tiên tiến. Vùng phía Tây Bắc (Khu vực Vĩnh Yên, Phúc Yên),
phiá Bắc (Phổ Yên, Sông Công) phía Đông (Phố Nối, Từ Sơn, Quế Võ), phía Nam (
Đồng Văn). Phát triển CN Hà Nội ở ngưỡng 6000-8000 ha (gần 30% CN Vùng) và ưu
tiên phát triển công nghệ cao.
2.5. Dự báo dân số
Năm 2030, dân số Hà Nội đạt khoảng dưới 10 triệu dân, tầm nhìn đến năm 2050
đạt ngưỡng 13-14 triệu người. Từ nay đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng dân
toàn thành phố không tăng quá 2-3%/năm, giảm dần còn dưới 1,5% giai đoạn
2030-2050 (thời kỳ 1994-2007: 2,4%/năm). Tốc độ tăng tự nhiên chung trong
khoảng 0,8-1%/năm. Tốc độ tăng cơ học (chuyển đổi ranh giới hành chính và lực
hút đô thị) của toàn thành phố 1-2%/năm (0,4%/năm 2007 ); của riêng đô thị
3-4%/năm. Khu vực nông thôn tăng chung sẽ giảm xuống dưới 0% đến -3 % do thu
hẹp ranh giới và hạn chế di dân từ nông thôn vào thành thị. Khống chế mật độ
dân số trong lõi trung tâm thành phố (4 quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình,
Đống Đa), hiện nay là 33.300người/km2, giảm dần trong tương lai đến năm 2050
là 23.000 người/km2; các đô thị khác dự kiến sẽ dưới 10.000 người/km2.
Năm 2030, dân số toàn thành phố có khoảng 9,4 triệu người (trong đó thành thị
khoảng 6,4 triệu người, Nông thôn khoảng 3 triệu người, tỉ lệ đô thị hóa
68,8%). Phân bổ dân cư đô thị hạt nhân khoảng 4,41triệu người (Trong đó: các
quận nội đô cũ phía Nam sông Hồng khoảng 1,69 triệu người; khu phát triển mới
cả phía Bắc và Nam khoảng 2,72 triệu người); 5 đô thị vệ tinh khoảng 1,77 triệu
người; Các đô thị sinh thái và các thị trấn hiện hữu khoảng 0,26 triệu người.
2.6. Dự báo sử dụng đất
Tổng quỹ đất xây dựng cả thành thị và nông thôn khoảng 125.500ha, chỉ tiêu:
130-135 m2/người, chiếm xấp xỉ 37,5% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó
đất xây dựng thành thị khoảng 92.000ha, chỉ tiêu: 125-130m2/người, chiếm 27,5%
so đất tự nhiên toàn thành phố. Đất xây dựng nông thôn khoảng 33.500 ha, chỉ
tiêu 135-140m2/người.
Phân bổ chi tiết đất xây dựng đô thị tại các khu vực: Đô thị hạt nhân có diện
tích khoảng 40.000 ha; chỉ tiêu: 90 m2/người, trong đó khu vực các quận nội
thành (Nam sông Hồng) có diện tích khoảng 9.000 ha; chỉ tiêu: 50-52 m2/người.
Khu vực phát triển mới diện tích khoảng 31.000 ha; chỉ tiêu: 110-115 m2/người,
trong đó 5 đô thị vệ tinh diện tích khoảng 32.000 ha; chỉ tiêu: 180 m2/người;
Các đô thị sinh thái và các thị trấn hiện hữu diện tích khoảng 3.900 ha; chỉ
tiêu: 135-140 m2/người.
2.7. Định hướng phát triển không gian vùng Thủ đô
2.7.1. Thủ đô Hà Nội trong chùm đô thị vùng Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội là Đô thị hạt nhân – đa chức năng với chức năng hành chính, chính trị
quốc gia là nổi bật; Các đô thị đối trọng là thành phố thủ phủ của các Tỉnh
xung quanh Hà Nội; Các đô thị vệ tinh có chức năng riêng biệt hỗ trợ đô thị hạt
nhân phát triển tạo thành chùm đô thị vệ tinh xung quanh Đô thị hạt nhân tránh
mô hình đô thị phát triển theo dạng lan tỏa và đô thị tập trung phát triển quá
mức. Phía Đông và Bắc Hà Nội hướng ra hệ thống cảng Hải Phòng, Quảng Ninh phát
triển đô thị vệ tinh và KCN sản xuất hàng hóa xuất khẩu khối lượng lớn gắn với
hệ thống quốc lô 2, đường xuyên Á và sân bay quốc tế Nội Bài. Phía Tây vùng địa
hình bán sơn địa dọc trên tuyến đường Hồ Chí Minh, QL21, có rừng Quốc gia Ba
Vì, Hương Tích phát triển đô thị vệ tinh và các khu du lịch nghỉ dưỡng, khu
công nghệ cao, một số công trình đầu mối hạ tầng kĩ thuật lớn. Phía Nam Hà Nội
phát triển đô thị vệ tinh đảm nhận các chức năng về dịch vụ chuyển tải hàng hóa
của vùng phía Tây và Tây Bắc với 1 số khu vực phía Nam Bắc Bộ với hệ thống
cảng, thông qua tuyến đường 5 – đường Đỗ Xá, Quan Sơn dự kiến làm mới.
2.7.2. Mô hình không gian thủ đô Hà Nội.
Cấu trúc đô thị Hà Nội được xây dựng dựa trên các yếu tố phát triển bền vững là
sự kết nối mạng đa cực, đa trung tâm, đa tầng bậc. Cụ thể là:
(1) Phát triển Thủ đô Hà Nội gồm đô thị hạt nhân và 5 đô thị vệ
tinh.
Đô thị hạt nhân là trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử,
dịch vụ, y tế, đào tạo chất lượng cao của cả nước, khu vực và Thành
phố Hà Nội, có dân số khoảng 4-4,5 triệu người, được mở rộng từ đô thị
lõi lịch sử về phía Tây đến tuyến đường Vành đai IV, về phía Bắc sông Hồng –
Khu vực Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm theo định hướng của Quy hoạch 1998. Trong
đó: Thành phố lõi lịch sử được kiểm soát bảo tồn nghiêm ngặt các di sản di
sản văn hóa Thăng Long cổ và lối sống truyền thống của người Hà
Nội, dân số tối đa là 0,8 triệu người, khống chế kiểm soát mật độ và tầng cao
xây dựng. Xây dựng Chuỗi đô thị nằm dọc đường vành đai IV Đan Phượng – Hoài Đức
– Hà Đông – Thường Tín nơi đây sẽ xây dựng các công trình có mật độ cao, ưu
tiên về cảnh quan cây xanh mặt nước. Chuỗi đô thị này sẽ ôm lấy đô thị lõi lịch
sử, có vùng đệm ngăn cách bởi hành lang xanh dọc sông Nhuệ và tiếp nhận nhiều
đồ án từ trên 750 dự án đang rà soát, cập nhật.
Khu vực Gia Lâm, Long Biên phát triển dịch vụ chất lượng cao như thương mại,
tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, đào tạo nghề, y tế chuyên sâu…và
hỗ trợ các ngành công nghiệp dọc QL5. Đông Anh phát triển thương mại giao dịch
quốc tế, công nghiệp kỹ thuật cao, du lịch sinh thái, trường quay gắn với bảo
tồn di tích Cổ Loa và đầm Vân Trì, TT thể thao thành phố Hà Nội (ASIAD). Mê
Linh khu là khu đô thị dịch vụ và công nghiệp sạch, đa ngành, kỹ thuật cao
kết nối với sân bay Nội Bài, phát triển trung tâm triển lãm EXPOR, hội chợ
hoa kết hợp trung tâm khoa học công nghệ chuyên ngành hoa và cây.
Hình thành 5 đô thị vệ tinh là Hòa Lạc, Sơn tây, Xuân Mai, Phú Xuyên – Phú
Minh và Sóc Sơn có dân số từ xấp xỉ từ 21 vạn đến 75 vạn người/1 đô thị. Mỗi
đô thị vệ tinh sẽ có một hoặc nhiều nhân tố chính để tạo công ăn việc làm và có
chức năng đặc thù riêng để hỗ trợ, chia sẻ với đô thị trung tâm về nhà
ở, đào tạo chất lượng cao, công nghiệp, dịch vụ… Trong đó Hòa Lạc là đô
thị khoa học, nơi tập trung trí tuệ và công nghệ tiên tiến nhất của Việt Nam,
là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước và vùng. Sơn Tây
là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cửa ngõ Tây Bắc thủ đô Hà Nội,
là đô thị văn hóa lịch sử du lịch sinh thái, phát triển tiểu thủ công
nghiệp, nông nghiệp sinh thái. Xuân Mai là đô thị đại học và dịch vụ cửa ngõ
phía Tây Nam Hà Nội. Phú Xuyên – Phú Minh là đô thị vệ tinh phía Nam của Thủ
đô, phát triển công nghiệp, kho tàng, các dịch vụ trung chuyển, đầu mối phân
phối, tiếp vận hàng hóa và Logistics phân phối nông sản vùng. Sóc Sơn là
đô thị cửa ngõ phía Bắc Hà Nội, là đô thị công nghiệp, dịch vụ cảng hàng
không Nội Bài gắn với bảo tồn khu vực núi Sóc.
(2) Hình thành hành lang xanh dọc sông Đáy, sông Tích, sông Cà Lồ nhằm phân
tách kiểm soát ngưỡng phát triển của đô thị hạt nhân và các đô thị vệ tinh.
Hành lang xanh chiếm 68% tổng diện tích đất tự nhiên, có chức năng bảo vệ những
khu vực tự nhiên quan trọng như hệ thống sông hồ, vùng núi Ba Vì, Hương Tích,
Sóc Sơn; bảo vệ vùng nông thôn, nông nghiệp năng suất cao, các làng xóm, làng
nghề truyền thống, các di tích văn hoá và kiểm soát lũ lụt.
Trong khu vực hành lang xanh, xây dựng đường cảnh quan
Bắc-Nam và 3 đô thị sinh thái mật độ thấp là Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn (quy
mô dân số tối đa 5 vạn người/đô thị) tại giao cắt của 3 tuyến chính QL6, đường
Láng-Hòa Lạc và QL32. Duy trì các thị trấn hiện hữu như Phùng, Tây Đằng,
Phúc Thọ, Liên Quan, Kim Bài, Vân Đình, Đại Nghĩa, Thường Tín… và hình
thành mới một số thị tứ. Các đô thị sinh thái và các thị trấn, thị tứ có
nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ công cộng hỗn hợp cho khu vực nông thôn.
Thiết lập vành đai xanh dọc theo sông Nhuệ kết nối các không gian mở và hệ
thống công viên đô thị tạo vùng đệm và là không gian cách biệt giữa đô thị lõi
lịch sử với phần mở rộng mới của đô thị hạt nhân trên tuyến vành đai IV tránh
việc phát triển theo vết dầu loang. Vành đai xanh dọc sông Nhuệ sẽ giảm tối đa
mật độ xây dựng, tiến tới không phát triển dân cư đô thị chỉ có các công trình
công cộng sinh thái cây xanh và mặt nước,
(3) Phát triển mạng lưới giao thông hiện đại, nâng cấp và bổ sung mới hệ
thống đường quốc lộ, đường vành đai, đường cảnh quan và hệ thống giao thông
công cộng lớn để kết nối thuận tiện đô thị hạt nhân, đô thị vệ tinh và toàn
bộ khu vực khác trong và ngoài thành phố Hà Nội.
(4) Xây dựng tuyến đường trục Thăng Long kết nối giữa Ba vì với trung tâm
Ba Đình Lịch sử. Ngoài chức năng về giao thông, đây cũng là trục không gian
văn hóa kết nối văn hóa Thăng Long và văn hóa Xứ Đoài. Trên tuyến trục sẽ xây
dựng mới công trình văn hóa, lịch sử và giải trí của cả nước và Hà
Nội. Trung tâm hành chính quốc gia dự kiến sẽ đặt tại khu vực Ba Vì –
Hòa Lạc, gắn với trục Thăng Long.
2.8. Định hướng quy hoạch hệ thống hạ tầng xã hội
2.8.1. Khu trung tâm chính trị Ba Đình
Giữ vị trí trung tâm chính trị quốc gia thành một tổng thể lâu dài tại
khu vực Ba Đình. Lư¬u giữ các giá trị di sản về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bảo
tồn, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, khảo cổ Hoàng Thành và cảnh quan
có giá trị khác. Điều chỉnh quy mô diện tích các cơ quan làm việc của Đảng,
Nhà nư¬ớc, Quốc hội và Chính phủ phù hợp với định hướng phát triển của quy
hoạch chung TP. Hà Nội. Bố trí các không gian tổ chức các hoạt động chính trị,
văn hoá, tham quan du lịch của nhân dân trong nước và khách Quốc tế và chỗ đỗ
xe.
2.8.2. Định hướng phát triển nhà ở
Giai đoạn đến năm 2030, nhà ở đô thị phấn đấu tăng từ 7,5 m2/người (năm
2007), lên 18m2 sàn/người (chỉ tiêu chung của quốc gia là 15 – 20
m2/người) và nhà ở nông thôn đạt 15m2 sàn/người. Dãn dân từ đô thị lõi lịch
sử tới các khu đô thị mới hoặc đô thị vệ tinh với các tiêu chuẩn nhà ở
đạt tiêu chuẩn quốc gia và đa dạng về loại hình đáp ứng nhu cầu của nhiều
đối tượng sử dụng trong xã hội. Đối với khu phố cổ, không phát triển nhà
ở mới, tập trung cải thiện chất lượng ở, bảo tồn giá trị kiến trúc nhà ở, không
gian ở truyền thống. Đối với các khu phố cũ, hạn chế phát triển nhà ở mới,
tập trung vào cải tạo quỹ nhà hiện có, bảo tồn kiến trúc nhà ở có giá trị (các
biệt thự cũ). Đối với các khu tập thể cũ, quy hoạch cải tạo không làm tăng
thêm quy mô dân số, bổ sung, hoàn thiện các chức năng công cộng và hạ tầng
kỹ thuật. Đối với nhà ở nông thôn truyền thống, phát triển nhà ở hài hòa với
bảo tồn kiến trúc nhà ở truyền thống, cải thiện chất lượng môi trường ở.
2.8.3. Định hướng quy hoạch mạng lưới giáo dục đào tạo
a. Mạng lưới các trường đại học và cao đẳng:
Dự kiến đến năm 2020 quy mô đào tạo vùng Đồng bằng sông Hồng là 1.8
triệu sinh viên, trong đó thành phố Hà Nội đảm nhận khoảng 70-75 vạn sinh
viên, chiếm khoảng 45-50% tổng số sinh viên của vùng cả vùng. Phát triển đào
tạo theo hướng nghiên cứu và đào tạo chất lượng cao ở hệ đại học, sau
đại học và hướng nghiệp ở hệ cao đẳng.
Trong đô thị lõi lịch sử, giảm quy mô đào tạo từ 66 vạn sinh viên xuống
tối đa khoảng 20 vạn sinh viên. Chuyển đổi chức năng sử dụng đất các cơ sở đào
tạo hiện hữu; môtk phần thành đất xây dựng các công trình dịch vụ đô thị tạo
nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở 2 cho các trường; phần còn lại chuyển đổi thành
các cơ sở nghiên cứu, đào tạo chất lượng cao sau đại học…Tại các đô thị
vệ tinh như Hòa Lạc, Sơn tây, Xuân Mai, Phú Xuyên – Phú Minh, Chúc Sơn, Sóc Sơn
xây dựng các cơ sở mới theo mô hình Khu đại học tập trung, đồng bộ về cơ sở
vật chất phù hợp với môi trường đào tạo đại học tiên tiến, dự kiến
chỉ tiêu 50 – 60 m2đất/sinh viên
b. Hệ thống giáo dục phổ thông: Hiện nay đạt 8 – 10 m2
đất/học sinh (tiêu chuẩn >15m2/hs). Đối với khu vực nội đô, cải tạo và
nâng cấp các trường hiện có, tăng cường diện tích xây dựng trường thông
qua các dự án tái đầu tư quỹ đất từ cải tạo khu chung cư cũ, chuyển đổi chức
năng KCN, các trụ sở cơ quan…hòa nhập tiêu chuẩn giữa trường học ở nội đô và
ngoại đô. Đối với các đô thị mới, kiểm soát chặt chẽ việc bố trí quỹ đất xây
dựng trường học theo tiêu chuẩn quốc gia.
2.8.4. Định hướng quy hoạch mạng lưới y tế và chăm sóc sức khỏe
cộng đồng
Tăng cường nhu cầu giường bệnh trong các bệnh viện đa khoa và các trung tâm y
tế chất lượng cao cấp vùng. Trong đô thị lõi lịch sử, cải tạo nâng cấp các
cơ sở bệnh viện gây ô nhiễm thành các cơ sở nghiên cứu, dịch vụ khám chữa bệnh
phục vụ dân cư các quận nội thành cũ. Xây dựng mới các tổ hợp công trình y tế
đa chức năng (Nghiên cứu đào tạo – khám chữa bệnh, phục hồi chức năng – sản
xuất dược và trang thiết bị y tế) tại khu vực Hòa Lạc, Sóc Sơn và Thường Tín –
Phú Xuyên (quy mô khoảng 200ha/1 tổ hợp). Trong đó một phần quỹ đất sẽ được xây
dựng thành các cơ sở 2 của các bệnh viện chuyên sâu tuyến Trung ương và Thành
phố hiện đang tập trung trong khu nội đô. Thiết lập mạng lưới bệnh viện đa khoa
khu vực tại các khu, cụm dân cư thuộc các quận, huyện, đô thị mới và đô thị vệ
tinh căn cứ theo quy mô dân số từng khu vực. Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y
tế cấp xã, phường.
2.8.5. Định hướng quy hoạch mạng lưới công trình văn hóa
Xây dựng trung tâm văn hóa mới của thành phố Hà Nội tại khu vực Tây Hồ
Tây và trung tâm văn hóa cấp quốc gia trên trục Thăng Long (Khu vực Sơn
Đồng, Hoài Đức). Quy hoạch lại hệ thống các công trình văn hóa như: nhà văn
hóa thông tin, thư viện, hệ thống bảo tàng… Xây dựng mới bảo tàng lịch sử quốc
gia Việt Nam, bảo tàng nghệ thuật Châu Á hoặc bảo tàng nghệ thuật Phương Đông,
bảo tàng lịch sử tự nhiên Việt Nam cùng nhiều bảo tàng chuyên đề khác. Tiếp
tục đầu tư nâng cấp những bảo tàng hiện có. Tiếp tục hoàn thiện dự án
Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam, là trung tâm giao lưu nghiên cứu văn
hóa các dân tộc trên toàn quốc. Xây dựng các trung tâm vui chơi giải trí, các
điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng trong các khu đô thị mới.
Quy hoạch hệ thống tượng đài, xây dựng biểu tượng mới của Hà Nội là Tượng
đài độc lập trên trục Thăng Long. Xây dựng mới các quảng trường văn hóa
gắn với hệ thống tượng đài mang tính lịch sử 1000 năm Thăng Long, tính nghệ
thuật cao kết hợp với các không gian công cộng, các không gian công viên vườn
hoa, khu vực vui chơi giải trí. Xây dựng công viên Tượng đài thành phố vì hòa
bình tại Từ Liêm, các công trình văn hóa tượng đài, phù điêu… về sự kiện Cách
mạng tháng 8, Tượng đài chiến thắng Cầu Giẽ tại Phú Xuyên, Tượng đài Nguyễn
Trãi tại Hà Đông…
2.8.6. Định hướng quy hoạch mạng lưới du lịch, dịch vụ
Dự kiến, tỷ trọng du lịch chiếm 10-15% GDP thành phố.Doanh thu của ngành du
lịch hàng năm tăng 16 -18%. Dự báo nhu cầu phòng khách sạn năm 2030 đạt khoảng
trên 5 triệu lượt khách quốc tế lưu trú trong KS, trên 7,5 triệu lượt khách nội
địa lưu trú trong KS.
Phát triển khu vực nội đô Hà Nội thành trung tâm đầu mối du lịch quốc gia trên
cơ sở bảo tồn và phát huy giá trị khu phố cổ, khu phố cũ, các di tích lịch sử
cách mạng, các di tích lịch sử văn hoá, tôn giáo gắn với quá trình hình thành
và phát triển thủ đô. Tiếp tục lựa chọn vị trí xây dựng hệ thống khách sạn 3-5
sao, tại nội đô và ngoại ô thành phố. Phát triển không gian du lịch nghỉ ngơi
cuối ngày và cuối tuần: tại khu vực các huyện ngoại thành phía Nam và phía Bắc
sông Hồng với các khu vực hạt nhân cần ưu tiên phát triển là tổng thể di tích
Cổ Loa và tổng thể di tích đền Sóc; Khu vực phía Tây theo trục Láng Hoà Lạc,
xây dựng các điểm du lịch sinh thái gắn với văn hoá tâm linh như chùa Thầy,
chùa Tây Phương, chùa Trăm gian, khu du lịch thể thao Đồng Mô – Ngải Sơn, Ao Vua,
Khoang Xanh, Suối Hai, vườn Quốc gia Ba Vì, CK9…; Kết hợp với văn hóa xứ Đoài,
văn hóa làng nghề, lễ hội làng; Khu vực phía Tây Nam liên kết với các không
gian du lịch phía Lương Sơn – Kim Bôi – Hòa Bình… phát triển các loại hình sinh
thái, nghỉ dưỡng. Phát triển trung tâm du lịch Quan Sơn – Hương tích. Hình
thành tuyến dou lịch trong thành phố (Citytour) bằng tàu thuỷ trên các sông
Hồng, sông Nhuệ, sông Đáy.
2.8.7. Định hướng quy hoạch mạng lưới thể dục thể thao
Cải tạo và nâng cấp các cơ sở TDTT hiện có. Dự kiến xây mới: Trung tâm thể thao
dưới nước Hồ Tây (5ha), Trung tâm giải trí thể thao cảm giác mạnh: loại hình
thể thao cảm giác mạnh gắn với công viên giải trí lớn của thủ đô, Trung tâm thể
thao vùng phía Bắc – Mê Linh (20ha), Trung tâm thể thao vùng phía Tây – Sơn Tây
(20ha), Trung tâm thể thao vùng phía Nam – Phú Xuyên (20ha), Trung tâm thể thao
địa hình Viên Nam: loại hình leo núi, tàu lượn, nhảy dù, xe địa hình, trung tâm
thể thao quốc gia và khu thể thao Olympic phía bắc sông Hồng phục vụ ASIAD hoặc
Olympic trong tương lai. Xây dựng tổ hợp thể thao có đua ngựa, đua xe công thức
I.
2.8.8. Định hướng quy hoạch mạng lưới công nghiệp
Từg bước di chuyển toàn bộ các khu, cụm công nghiệp gây ô nhiễm môi trường
trong đô thị lõi lịch sử như cụm công nghiệp Cao Xà Lá, Cầu Diễn, Minh Khai,
Rượu bia… tới các vị trí mới đã được xác định trong quy hoạch chung. Chuyển đổi
toàn bộ quỹ đất này thành đất công trình công cộng đô thị. Hình thành mới 03
vùng công nghiệp, diện tích khoảng 7.000 – 8.000 ha (đến năm 2030), gồm: Phía
Bắc có các KCN Sóc Sơn, Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm (khoảng 4.000 –
4.500 ha), phát triển công nghiệp nặng, kho tàng, dịch vụ tiếp vận trung chuyển
hàng hóa (Logistic) gắn với sân bay quốc tế Nội Bài và hành lang kinh tế Côn
Minh – Hà Nội – Hải Phòng. Phía Nam có các KCN Thường Tín – Phú Xuyên (khoảng
1.000- 1.500 ha) phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp đa ngành gắn với
vùng nông nghiệp phía Nam Hà Nội và đầu mối giao thông giữa tuyến Đỗ Xá – Quan
Sơn và hành lang kinh tế Bắc Nam dọc Quốc lộ 1A. Phía Đông phát triển khu CN
cao Hòa Lạc, công nghiệp chế biến, đa ngành tại Xuân Mai, Miếu Môn (khoảng
2.000 ha) gắn kết đường Hồ Chí Minh và các tuyến hướng tâm Hà Nội.
Phát triển TTCN – Làng nghề truyền thống gắn với ngành nghề nông thôn, theo các
cụm các nhóm nghề, kết hợp với bảo tồn và khai thác du lịch. Chú trọng bảo vệ
môi trường.
2.8.9. Định hướng quy hoạch mạng lưới dịch vụ thương mại
Xây dựng mới các trung tâm giao thương, Tài chính – Thương mại quốc tế (10- 15
ha) ở Tây Hồ Tây, Hội chợ triển lãm thương mại quốc tế (10 – 50 ha) ở Mỹ Đình,
Đông Anh. Hình thành mạng lưới các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ… theo
các cấp phục vụ; Trung tâm dịch vụ trung chuyển hàng hóa gắn với các mạng lưới
chợ đầu mối nông sản tổng hợp cấp vùng (50 – 100 ha/chợ) tại khu vực Mê Linh,
Thường Tín – Phú Xuyên, Hòa Lạc, Thạch Thất, Gia Lâm; Mạng lưới trung tâm bán
buôn và mua sắm cấp vùng (20 – 50 ha/trung tâm) gắn với khu vực đô thị trung
tâm, các đô thị vệ tinh và các đầu mối giao thông liên vùng tại Sóc Sơn, Thường
Tín – Phú Xuyên, Hòa Lạc, Chúc Sơn, Gia Lâm.
2.8.10. Định hướng quy hoạch mạng lưới không gian xanh.
Phấn đấu chỉ tiêu đất cây xanh tập trung trong đô thị đạt 10-15m2/người. Khai
thác bảo vệ cảnh quan các hệ thống cây xanh tự nhiên tại các khu vực Sóc Sơn,
Ba Vì, Hương Tích và hệ thống sông hồ, kết nối với các công viên đô thị và công
chuyên đề như: Công viên lịch sử Cổ Loa, Đền Sóc; Công viên văn hóa gắn với
trung tâm các khu đô thị, khu làng nghề trồng hoa, gốm sứ…; Công viên vui chơi
giải trí Hồ Tây, Vườn thú, công viên Thống Nhất, Yên Sở, Mễ Trì…; Công viên thể
thao, phục vụ các hoạt động thể thao (khu liên hợp thể thao quốc gia, trung tâm
thể thao…
2.8.11. Các trục trung tâm, trục hướng tâm và trục phụ
Hình thành các trục không gian chủ đạo kết nối các chức năng chính đô thị với
các vùng cảnh quan chính tạo lập hình ảnh đặc trưng cho Thủ đô, bao gồm: Trục
Đông Tây (Trục Thăng Long, trục Tây Thăng Long, trục đường 32, trục Láng Hòa
Lạc, trục đường QL6), Trục Bắc Nam (Trục Quốc lộ 3, trục quốc lộ 1A, 1A, trục
Nhật Tân- Nội Bài), Trục phía Đông Bắc (Trục đường 5 nối đường Nguyễn Văn Cừ
qua trung tâm quận Long Biên), Trục kinh tế Bắc Nam kết nối các thị trấn thị tứ
hiện hữu nằm trong hành lang xanh.
Thiết lập trục cảnh quan lấy sông Hồng làm trung tâm khai thác các yếu tố cây
xanh mặt nước cùng các thiết chế văn hóa cấp thành phố, quốc gia và quốc tế.
Trục tâm linh gắn kết núi Ba Vì với Ba Đình, nôi kết với khu vực Cổ Loa tạo nên
trục văn hóa lịch sử và tâm linh lớn của cả nước
2.9. Định hướng phát triển khu vực nông thôn
Phát triển sản xuất nông nghiệp Hà Nội theo hướng sản xuất hàng hoá và công
nghệ cao. Ưu tiên trồng cây lúa năng suất cao, trồng hoa và cây cảnh, cây ăn
quả, trồng rau sạch, chăn nuôi đại gia súc, khôi phục và phát triển các làng
nghề truyền thống, phát triển các làng nghề mới liên kết với các KCN, sử dụng
công nghệ không gây ô nhiễm và nâng cao tính cạnh tranh của các làng nghề.
Phát triển dân cư nông thôn, hình thành các trung tâm tiểu vùng trong huyện là
các thị trấn hoặc thị tứ để cung cấp các dịch vụ công cộng thiết yếu. Xây dựng
mô hình thí điểm các cụm dân cư đổi mới gắn với các trung tâm dịch vụ sản suất
tại các cụm, điểm dân cư trung tâm xã như: Điểm dân cư xã sản xuất lúa tại
Thanh Oai, chăn nuôi bò sữa tại Ba Vì, nuôi trồng thủy sản tại Mỹ Đức, trồng
rau an toàn tại Đông Anh, Sóc Sơn, trồng cây ăn quả tại Đan Phương, trồng hoa
tại Mê Linh, điểm dân cư TTCN, làng nghề tại Thường Tín, Chương Mỹ… Xây dựng
các cơ chế chính sách hỗ trợ, bảo hộ về thuế và giống cây trồng, vật nuôi cho
các hộ dân. Từng bước nhân rộng mô hình này, tạo nên vùng nông thôn đặc trưng
cho Thủ đô Hà nội, kết hợp với việc giữ gìn và phát huy bản sắc các làng xóm,
di tích tín ngưỡng khai thác phát triển du lịch. Hạn chế tăng mật độ dân số khu
vực nông thôn và tăng cường các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nông
thôn, đặc biệt tại các làng nghề.
2.10. Định hướng quy hoạch hạ tầng kỹ thuật
2.10.1 Giao thông
Mạng lưới giao thông của Hà Nội hiện nay chưa đáp ứng kịp nhu cầu
phát triển của xã hội. Các dự án phát triển hệ thống giao thông
còn thiếu hoặc triển khai xây dựng rất chậm. Hệ thống đường sắt có công
nghệ lạc hậu, chiếm tỷ trọng quá nhỏ so với tổng nhu cầu vận tải.
Đường thủy tỷ trọng vận tải thấp so với tiềm năng do chỉ dựa vào điều kiện tự
nhiên. Giao thông đô thị đang bị quá tải nặng nề, tỷ lệ đáp ứng về vận tải
hành khách công cộng rất thấp, chỉ đạt 15% (tiêu chuẩn 40-60%).
b. Định hướng phát triển giao thông đối ngoại.
- Đường bộ: Cải tạo, nâng cấp mạng lưới giao thông đường bộ hiện hữu gồm các
tuyến Quốc lộ, tỉnh lộ hướng tâm về đô thị lõi lịch sử và đường vành đai. Xây
dựng các tuyến song hành trên các hướng tuyến chính như QL32, đường láng Hòa
Lạc, QL6, QL1A, 1B, QL5, QL3 nhằm chia sẻ sự quá tải cho các tuyến hướng tâm
này. Đối với các tuyến vành đai: Hoàn thiện tuyến Vành đai IV, vành đai V, các
tuyến cao tốc dọc các hành lang kinh tế quan trọng và kết nối các đô thị đối
trọng với thủ đô Hà Nội. Trong đó tuyến đường vành đai IV là đường vành đai
ngoài của đô thị hạt nhân. Xây dựng mới 7 cầu, 1 hầm qua sông Hồng; Xây dựng hệ
thống các nút giao cắt khác mức; Cải tạo xây dựng hệ thống các bến, bãi đỗ xe
đầu mối.
- Đường sắt: Cải tạo xây dựng hoàn chỉnh tuyến đường sắt vành đai song song
theo hành lang vành đai IV; Xây dựng mới tuyến đường sắt cao tốc Bắc – Nam. Xây
dựng mới 5 tuyến đường sắt đô thị (theo dự án đường sắt đô thị của TP Hà Nội
cũ) kết hợp xây dựng mới các tuyến đường sắt phục vụ Ngoại ô, kết nối với hệ
thống đường sắt nội đô và Quốc gia thông qua các ga đầu mối;
- Đường hàng không: Nâng cấp cảng hàng không, sân bay quốc tế Nội Bài lớn nhất
phía Bắc, đạt 50 triệu triệu hành khách/năm sau năm 2030; Sân bay Gia Lâm phục
vụ nội địa tầm ngắn.
- Đường thuỷ: Khơi thông luồng lạch nhằm khai thác tối đa các tuyến sông Hồng
và các tuyến đường thuỷ kết nối trực tiếp với cụm cảng biển cửa ngõ Hải Phòng
và Quảng Ninh. Cải tạo các sông Đáy, sông Tích nhằm phục hồi các tuyến đường
thủy phục vụ du lịch và nông nghiệp trên các sông này. Cải tạo, nâng cấp, xây
dựng hệ thống các cảng sông khu vực Hà Nội, Sơn Tây, liên kết với các cảng của
tỉnh Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam.
c. Định hướng phát triển giao thông đô thị.
- Đô thị hạt nhân: Chỉ tiêu mật độ mạng lưới đường chính cấp thành phố: 3-5
Km/Km2; Tỷ lệ đất giao thông 20% – 26%; Vận tải hành khách công cộng đáp ứng
45% – 55%; Mạng lưới GTCC: 2,0-3,0 Km/Km2. Đối với trung tâm hiện hữu: Hoàn
thiện tuyến Vành đai II, Vành đai III. Xây dựng các tuyến đường 2 tầng giải
quyết tình trạng ùn tắc giao thông tại các khu vực khó có điều kiện mở rộng
hoặc nâng cấp đường. Đối với chuỗi Đô thị mới từ vành đai III đến vành đai IV,
xây dựng mới tuyến ”3,5” kết nối các đô thị mới theo hướng Bắc Nam. Xây dựng
các nút giao cắt khác mức trên các đường trục chính đô thị. Kiểm soát và dành
đủ quỹ đất để bố trí hệ thống bến bãi đỗ xe. Phát triển hệ thống đường sắt vận
tải hành khách khối lượng lớn (UMRT) kết hợp với mạng lưới xe buýt nhanh tạo
thành mạng lưới liên hoàn, hiệu quả. Xây dựng 7 tuyến đường sắt đô thị, kéo dài
kết nối đô thị hạt nhân với các đô thị vệ tinh.
- Các đô thị vệ tinh: Xây dựng mới hoàn toàn hệ thống giao thông theo quy hoạch
thống nhất đồng bộ và hiện đại, phù hợp tính chất chức năng và điều kiện đặc
thù của các đô thị, đảm bảo liên hệ nhanh với đô thị trung tâm và các đô thị
khác.
- Tăng cường vận chuyển hành khách bằng giao thông công cộng. Xây dựng hệ thống
tàu điện ngầm khu vực nội đô từ đường vành đai III trở vào để kết nối với hệ
thống đường sắt công cộng ngoại đô để giảm tải giao thông cá nhân. Xây dựng hệ
thống nhà ga tàu điện ngầm kết nối với các điểm đô thị. Nơi đây sẽ là điều kiện
phát triển trung tâm kinh tế, thương mại và dịch vụ. Hoàn thiện hệ thống xe
buýt với các tuyến đi riêng biệt.
d. Định hướng phát triển giao thông ngoại ô.
- Mạng lưới đường bộ: Sử dụng các tuyến quốc lộ và đường cao tốc hướng tâm hiện
hữu kết nối đô thị vệ tinh với đô thị trung tâm như QL 32, đường cao tốc Láng
Hoà Lạc, QL6, QL 1A và đường cao tốc Bắc Nam, QL3 và đường cao tốc Hà Nội –
Thái Nguyên. Xây dựng mới các tuyến Tây Thăng Long, Trục Thăng Long nối tiếp từ
đường Hoàng Quốc Việt đến đô thị Hoà Lạc, tuyến Hà Đông Xuân Mai, tuyến Ngọc
Hồi Phú Xuyên, tuyến đường sinh thái nông nghiệp (trục Bắc Nam cũ), tuyến Xuân
Mai – Quan Sơn – Đại Nghĩa; tuyến Đỗ Xá – Quan Sơn và các tuyến dọc theo các
sông sinh thái kết hợp du lịch và vận tải thuỷ
- Phát triển hệ thống vận tải hành khách công cộng, kết nối các đô thị vệ tinh:
trước mắt kết nối chủ yếu bằng các tuyến xe buýt nhanh. Trong tương lai, tùy
theo lưu lượng vận tải mỗi tuyến để nâng cấp lên đường sắt hoặc loại hình vận
tải khối lượng lớn hơn và nhanh hơn. Tổ chức các tuyến đường sắt ngoại ô kết
nối trực tiếp các khu đô thị mới (TOD); Tổ chức các tuyến ôtô buýt nhanh (BRT)
liên kết các đô thị với thành phố hạt nhân.
2.10.2. Chuẩn bị kỹ thuật
a. Định hướng CBKT
Quy hoạch phòng chống lũ được nghiên cứu dựa trên các đề án do Viện quy hoạch
thuỷ lợi lập và trình Chính phủ như: “Quy hoạch phòng, chống lũ chi tiết của
từng tuyến sông có đê trên địa bàn Hà Nội” với mức đảm bảo phòng chống lũ đê
sông theo tiêu chuẩn phân cấp đê 14TCN 19-85. “ Dự án quy hoạch sông Đáy” xoá
bỏ các khu chậm lũ, xây dựng mới công trình đầu mối sông Đáy, kiến nghị nên giữ
sông Đáy theo hình thái tự nhiên, thân thiện với môi trường.
Quy hoạch san nền đảm bảo không bị ảnh hưởng của lũ lụt và các tác động bất lợi
của thiên nhiên (sạt lở, động đất…), cao độ nền khống chế của từng đô thị sẽ
được lựa chọn phụ thuộc vào chế độ thuỷ văn của sông, suối đi qua, ảnh hưởng
trực tiếp tới đô thị (ứng với tần suất P=1%). Đối với khu dân dụng đảm bảo tần
suất (P=1%) + 0,3m, đối với KCN đảm bảo tần suất (P=1%) + (0,5-0,7)m. Cao độ
khống chế đối với các thị trấn, dân cư nông thôn sẽ căn cứ vào mực nước max gây
úng ngập hàng năm và tôn cao hơn nền ruộng từ 0,7 đến 1,5m.
b. Quy hoạch Thoát nước mưa đô thị:
Định hướng tiêu thoát nước cho Hà Nội đảm bảo thoát nước nhanh nhất và hiệu quả
nhất, theo hình thức tự chảy là chính, đáp ứng được biển đổi khí hậu đã được
cảnh báo. Hình thành 3 lưu vực chính là Tả Đáy, Hữu Đáy và Bắc Hà Nội. Đối với
khu vực Hà Nội cũ, tiếp tục hoàn thiên dự án thoát nước Hà Nội chủ động tiêu
thoát và được hỗ trợ một phần của vùng tiêu thuỷ lợi sông Nhuệ. Các lưu vực phụ
trong nội đô Hà Nội (lưu vực sông Tô Lịch) về cơ bản tuân thủ QH thoát nước do
JICA lập và QH năm 1998. Các lưu vực phụ nằm giữa vành đai III và vành đai IV
phù hợp với quy hoạch tiêu nước hệ thống thuỷ lợi sông Nhuệ (phê duyệt tại
quyết định số 037/QĐ-TTg ngày 01/07/2009). Tại các đô thị vệ tinh và các điểm
dân cư tập trung khác: các lưu vực thoát nước sẽ được phân chia trên cơ sở địa
hình tự nhiên, hướng thoát ra các sông chảy qua đô thị.
Về công trình đầu mối: Đối với khu vực Hà Nội cũ, ngoài trạm bơm tiêu Yên Sở
cần hỗ trợ bằng cách chuyển đổi các trạm bơm thuỷ lợi thành các trạm bơm đô thị
như: trạm bơm Yên Nghĩa, Đào Nguyên, Yên Thái, Khe Tang mới. Tại các đô thị vệ
tinh, thị tứ, thị trấn, dân cư nông thôn, giai đoạn trước mắt tiêu thoát theo
thuỷ lợi, nâng cấp các trạm bơm tới đủ công suất để tiêu chung cho cả đô thị,
công nghiệp và nông nghiệp.
Các công trình đầu mối được xây dựng phù hợp với từng giai đoạn
đầu tư.
Giải pháp tổ chức thoát nước mưa: Đảm bảo thông thoáng các trục tiêu chính đi
qua đô thị: sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ … Mở rộng và nạo vét các kênh trục
chính: sông Nhuệ, sông Tích, sông Hang, La Khê, Vân Đình, Duy Tiên, sông Thiếp,
kênh Xuân Nộn, sông Hoàng Giang – Ngũ Huyện Khê…Tạo ra những hệ thống tiêu liên
hoàn, đặc biệt là trong đô thị trung tâm. Cần phải có quỹ đất dự phòng dành cho
hệ thống công trình tiêu. Xoá bỏ tình trạng ngập úng thường xuyên trong mùa mưa
ở các đô thị. Mở rộng phạm vi phục vụ của các hệ thống thoát nước, đạt 90% và
tiến tới đạt 100%.
2.10.3 Cấp nước
Cấp nước cho Hà Nội hiện nay chủ yếu sử dụng nước ngầm, công suất 700.000
m3/ngđ, chất lượng không đồng đều tại các khu vực. Nhà máy nước sông Đà công
suất gđ1 300.000 m3/ngđ là nguồn cấp nước chủ yếu cho Hà Nội, đến nay công
suất khai thác sử dụng thấp do mạng lưới cấp nước chưa được xây dựng. Hiện nay
tỷ lệ dân sử dụng nước máy chiếm 46% chủ yếu tại Hà Nội cũ, Hà Đông và Sơn
Tây, tiêu chuẩn 100-120 l/ng.ngđ & 54% dân số sử dụng nước giếng khoan,
giếng đào, nước mưa và ao hồ. Khu vực nông thôn, cấp nước đô thị chiếm 1,4%,
còn lại sử dụng nước giếng khoan hoặc giếng đào.
Định hướng cấp nước đạt 90-100% dân số sử dụng nước sạch, tiêu chuẩn: 150-200
l/ng.ngđ tại thành thị & từ 100-120 l/ng.ngđ tại nông thôn. Tổng nhu cầu
cấp nước đến năm 2030: 2.628.544 m3/ngđ, đến năm 2050: 3.633.171 m3/ngđ. Trong
đó lượng nước cấp cho đô thị chiếm tỷ lệ 82%. Hạn chế không khai thác nước
ngầm, tiếp tục khai thác nước mặt sông Đà, sông Lô, sông Đuống để tránh sụt
lún nền đất đô thị, tỷ lệ khai thác nước mặt đến năm 2020 là 65% và đến năm
2030 đạt 83%. Xây mới NNM mặt sông Hồng (nguồn nước sông Đà) công suất năm 2030
đạt 600.000m3/ngđ cấp bổ sung cho khu vực Nam sông Hồng. Xây dựng NNM sông
Đuống (nguồn nước sông Đuống, xét thêm phương án lấy nước mặt sông Lô) công
suất năm 2030 đạt 600.000m3/ngđ cấp bổ sung cho khu vực Bắc sông Hồng. Nâng
công suất NNM sông Đà năm 2030 đạt 1.200.000 m3/ngđ cấp cho khu vực phía Tây
thủ đô Hà Nội. Tổng lượng khai thác nước ngầm đến năm 2030 là 455.000 m3.ngđ.
Trong đó giảm dần công suất các nhà máy nước ngầm khu vực trung tâm Hà Nội đến
năm 2030 là 265.000 m3/ngđ. Xây dựng các trạm bơm tăng áp cấp nước cho các đô
thị. Khu vực nông thôn sống gần đô thị sử dụng nước của các nhà máy nước, đối
với các khu vực nông thôn khác cần xây dựng các trạm cấp nước tập trung quy mô
nhỏ
2.10.4. Cấp điện
Dự báo đến năm 2030, tổng nhu cầu cấp cho Hà nội cần khoảng 10.000MW (năm 2009
đạt 1650MW). Để đáp ứng nhu cầu tăng thêm này, phải đảm bảo đúng tiến độ xây
dựng và đưa vào vận hành các nhà máy thủy điện cấp vùng tại Sơn La, Lai Châu;
các nhà máy nhiệt điện vùng duyên hải Bắc bộ ở Quảng Ninh, Hài Phòng… Cần xây
dựng mới 04 trạm 500KV cho Hà nội gồm Hiệp Hòa, Đan Phượng, Đông Anh, Xuân Mai;
nâng công suất trạm 500KV Thường Tín. Xây mới khoảng 21 trạm và cải tạo 5 trạm
220KV đến 2030 với tổng công suất 14.500MVA. Các đường dây 500KV, 220KV được bố
trí quỹ đất, hình thành các mạch vòng kín để cấp điện ổn định, an toàn.
Đảm bảo mỹ quan đô thị, từ đường vành đai 4 trở vào đô thị lõi lịch sử sẽ ngầm
hóa 100% lưới điện nổi đến 220KV hiện có (Hiện tại đường điện đi nổi chiếm
>75%).
Tiếp tục phát triển hệ thống chiếu sáng đô thị Hà Nội phải đảm bảo an toàn cho
người dân, tiết kiệm năng lượng, hiệu quả cao, hạn chế ô nhiễm ánh sáng. Đến
2030, dự kiến 100% đường đô thị và 90% đường trong khu dân cư nông thôn được
chiếu sáng đạt tiêu chuẩn.
2.10.5. Thông tin liên lạc
Dự báo đến năm 2030 cần khoảng 7,2 triệu thuê bao, mật độ 77,4 thuê bao/100
dân. Phát triển công nghệ mới, cho phép các nhà cung cấp nâng cao chất lượng
dịch vụ. Chuyển mạch quang, giao thức IP sẽ được sử dụng đến tận thuê bao. Từng
bước nâng cấp từ thông tin băng thông rộng ADSL, lên các công nghệ tiên tiến
hơn như truy nhập không dây băng rộng (Wimax)… Xây dựng mô hình Chính phủ điện
tử và tạo điều kiện để phát triển thương mại điện tử. Ngầm hóa mạng cáp ngoại
vi trong khu nội đô và các đô thị vệ tinh. Phát triển công nghệ 3G-4G. Bổ xung
trạm thu phát sóng tại vùng lõm và khu vực tập trung đông dân cư để tránh xảy
ra nghẽn mạng hoặc mất tín hiệu.
2.10.6. Thoát nước thải, quản lý chất thải rắn, nghĩa trang
a. Quy hoạch thoát nước thải
Mạng lưới thoát nước thải tại Hà Nội hiện chưa được đầu tư đồng bộ.
Trong các đô thị hiện đang sử dụng chung với hệ thống thoát nước mưa, khu
vực nông thôn không có hệ thống nước thải bẩn. Toàn thành phố có 4 trạm
XLNT sinh hoạt đô thị, tổng công suất 46.000÷50.000 m3/ngđ. Tại các KCN, chưa
xử lý nước thải công nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường; Hiện có 5/17
KCN có trạm XLNT hoạt động và đang xây dựng, chiếm 29,5%. Tại các bệnh
viện, có 22/80 bệnh viện chính có trạm XLNT, đạt tỷ lệ 27 %.
Dự kiến đến năm 2030: tổng nước thải sinh hoạt và công nghiệp cần xử
lý cho 100% các hoạt động là 1.975.000 m3/ngđ. Đối với các đô thị cũ, sử
dụng hệ thống thoát nước hỗn hợp, thu gom xử lý tại các trạm XLNT tập
trung. Đối với khu đô thị mới, xây dựng hệ thống thoát nước thải riêng và
thu gom xử lý tập trung. Khu vực nông thôn, xây dựng hệ thống mương, cống
thoát nước chung và xử lý nước thải sinh học trong điều kiện tự nhiên. Đối
với các KCN tập trung, nước thải được thu gom riêng và xử lý đạt tiêu
chuẩn môi trường. Đối với các nhà máy xí nghiệp phân tán, phải xây dựng
công trình XLNT riêng của từng nhà máy. Chất lượng nước thải sau khi xử lý
phải đạt các tiêu chuẩn Việt Nam.
b. Quản lý chất thải rắn (CTR)
Toàn thành phố hiện đã thu gom được 1.079.115 tấn/năm đạt 83,2% tổng lượng
CTR phát sinh, đã có 5 khu xử lý CTR lớn với diện tích khoảng 101 ha.
Dự kiến 100% CTR được thu gom, phân loại CTR tại nguồn, trên phạm vi toàn
thành phố. Dự báo năm 2030, lượng chất thải rắn sinh hoạt là 10.279 tấn/ngđ.
Mỗi đô thị, KCN sẽ thành lập một điểm trao đổi thông tin về CTR có thể
tái chế, tái sử dụng để các doanh nghiệp trực tiếp trao đổi CTR, tạo thuận lợi
cho nhu cầu tái chế, tái sử dụng.
Cải tạo và xây dựng mới 12 khu xử lý CTR lớn với tổng diện tích đến năm 2050
là 245-452 ha, trong đó dự kiến mới là 144-350 ha. Bao gồm: Khu xử lý CTR Sóc
Sơn 68,1-150ha; Khu xử lý CTR Việt Hùng – Đông Anh 8,8ha; Khu xử lý CTR xã Phù
Đổng – Gia Lâm 6-23 ha, Khu xử lý CTR Kiêu Kỵ – Gia Lâm 10ha, Khu xử lý CTR xã
Cao Dương – Thanh Oai 4,5 ha, Khu xử lý CTR xã Châu Can – Phú Xuyên 4 -15ha,
Nhà máy phân hữu cơ Cầu Diễn – Từ Liêm 2,2ha, Khu xử lý CTR Xuân Sơn – Sơn Tây
10-40ha; Khu xử lý CTR Đồng Ké – Chương Mỹ 19ha; Khu xử lý CTR Núi Thoong –
Chương Mỹ 2-9 ha, Khu xử lý CTR xã Hữu Bằng – Thạch Thất 3ha, Khu xử lý CTR xã
Tiến Sơn – Lương Sơn (Hòa Bình) 11-78ha.
Các khu xử lý CTR có quy mô lớn (cấp thành phố) sẽ lựa chọn công nghệ hiện đại,
chủ yếu là tái chế chất vô cơ, hữu cơ; đốt CTR vô cơ không tái chế được và CTR
nguy hại sản xuất điện; chôn lấp hợp vệ sinh (chất vô cơ và tro sau khi đốt).
Các khu xử lý CTR quy mô nhỏ, CTR phát sinh tại khu vực nông thôn ưu tiên sử
dụng các công nghệ chôn lấp, tái chế, ủ phân hữu cơ phục vụ nông nghiệp. Áp
dụng công nghệ hoàn nguyên bãi chôn lấp để tiết kiệm diện tích.
c. Quản lý nghĩa trang:
Tổng đất nghĩa trang toàn thành phố hiện nay là 2.893ha, trong đó có 9 nghĩa
trang tập trung lớn với diện tích 111,6 ha.
Dự báo năm 2030: Địa táng tại Hà Nội chiếm 55%, địa táng ngoài Hà
Nội chiếm 5%, hỏa táng chiếm 40%. Cải tạo và xây mới 14 nghĩa trang tập
trung, gồm: Mai Dịch 1 – Q. Cầu Giấy là 5,5ha; Mai Dịch 2 – H. Thạch Thất từ
57-200 ha; Vạn Phúc – Hà Đông 5ha; Xuân Đỉnh – Từ Liêm 5,5ha; Thanh Tước – Mê
Linh 14ha; Minh Phú – Sóc Sơn 60-130ha; Xã Thụy Lâm – Đông Anh 8ha; Văn Điển –
Thanh Trì 18,3ha; Yên Kỳ 1 – Ba Vì 38,4ha; Yên Kỳ 2 – Ba Vì 150-383ha; Vĩnh
Hằng – Ba Vì 18,3ha; Trung Sơn Trầm – Sơn Tây 14ha; Sài Đồng – Gia Lâm 0,6ha;
Xã Lệ Chi – Gia Lâm 22-68ha. Xây dựng mới các lò hỏa táng tại 4 khu vực
là: Yên Kỳ 2, Mai Dịch 2, Thụy Lâm – Đông Anh và Lệ Chi – Gia Lâm.
Các nghĩa trang hiện hữu sẽ phải trồng cây xanh bao quanh, giảm thiểu sự lộ
diện ra ngoài các tuyến đường giao thông. Đối với các đô thị, sẽ đóng cửa
các nghĩa trang hiện có khi lấp đầy, cải tạo thành nghĩa trang công viên. Khu
vực nông thôn, tất cả các nghĩa trang phân tán, quy mô nhỏ thuộc phạm vi dự
án xây dựng sẽ di chuyển đến nghĩa trang tập trung. Các nghĩa trang còn lại
không thuộc dự án xây dựng, không mở rộng quy mô, hết thời gian hung táng
chuyển đến nghĩa trang tập trung.
2.11. Bảo tồn di sản
Trải qua 1000 năm phát triển, Hà Nội mang trong mình những giá trị đặc trưng
sâu sắc về văn hóa vật thể và phi vật thể của nền văn hóa Thăng Long cổ, Hà nội
văn hiến được hình thành và phát triển bởi sự kế thừa tiếp nối liên tục xuyên
xuốt nhiều giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc. Bên cạnh những giá trị văn
hóa phi vật thể là lối sống, phong tục tập quán, nghề truyền thống… được người
Hà Nội đúc kết, lưu truyền từ ngàn năm về trước đến ngày nay. Hà Nội còn lưu
giữ trong mình hệ thống di sản văn hóa vật thể đồ sộ cần bảo tồn tại đô thị lõi
lịch sử đó là các khu phố cổ, khu phố Pháp, làng cổ ven đô, thành cổ, những
công trình kiến trúc văn hóa, tín ngưỡng, các kiến trúc thuộc địa Pháp, các
kiến trúc tiêu biểu thời kỳ Hòa bình lập lại…và cả hệ sinh thái cảnh quan đặc
trưng là đô thị với nhiều sông hồ, cây xanh gắn với vùng sinh thái nông nghiệp.
Ngày nay, Hà Nội được sáp nhập với Hà tây, cũng là vùng mang đậm văn hóa truyền
thống, văn hóa Xứ Đoài.
Tất cả các giải pháp quy hoạch đô thị đều được thiết lập dựa trên tiêu chí bảo
tồn. Đối với khu đô thị lõi lịch sử: kiểm soát và giảm quy mô dân số từ 1,2
triệu dân xuống còn 0,8 triệu, không chế tầng cao, mật độ xây dựng và có quy
chế quản lý kiến trúc cảnh quan từ đường vành đai 2 đến lõi trung tâm, đặc biệt
là khu vực xung quanh Hoàn Thành, khu Ba Đình, khu phố cổ, phố Pháp, hồ Gươm,
hồ Tây và một số làng truyền thống như làng hoa Tây Hồ, hoa Ngọc Hà, làng đúc
đồng Ngũ Xã, làng Bưởi…, các di tích tín ngưỡng trong các ô phố, khu dân cư.
Bảo tồn cầu Long Biên. Lập kế hoạch khảo sát, đánh giá toàn diện các di tích Thăng
Long cổ, khảo cổ để trung tu, sửa chữa.
Các di tích nằm ngoài đô thị lõi lịch sử, tiếp tục khảo sát và xây dựng danh
mục công trình, cụm công trình di tích để đánh giá, xếp hạng và có kế hoạch bảo
tồn. Các cụm công trình có giá trị về văn hóa lịch sử như: Thành Cổ loa, Sơn
Tây; các làng cổ Đường Lâm, Bát Tràng…; Chùa Thầy, chùa Tây Phương, đình Thụy
Phiêu, đình Tây Đằng, Chu Quyến… tiếp tục nâng cấp bảo tồn di tích, khoanh vùng
bảo vệ và kiểm soát các hoạt động xây dựng khu vực xung quanh di tích, loại bỏ
các kiến trúc ảnh hưởng đến cảnh quan di tích như khu vực chùa Thầy. Phát huy
và nhân rộng mô hình bảo tồn làng cổ Đường Lâm hiện nay. Bảo tồn các vùng cảnh
quan sinh thái đặc biệt quan trọng như vườn Quốc gia Ba Vì, hồ Đồng Mô, hồ Tây,
Hương Sơn, khu thiên nhiên bán sơn địa vùng Sơn Tây, vùng sinh thái tự nhiên
ven sông Hồng, sông Đáy…
Đối với khu Thành cổ và di tích 18 Hoàng Diệu, phục chế lại Điện Kính Thiên và
các di tích khác trong thành khi có đủ tư liệu khoa học.
Đối với khu phố cổ Hà Nội bổ sung quy chế quản lý xây dựng và phát triển, phân
kỳ tôn tạo cho các tuyến phố, cải tạo thí điểm chỉnh trang mặt đứng kiến trúc
và không gian 1 tuyến phố trên cơ sở hiện trạng kiến trúc hiện nay, giảm mật độ
cư trú, cải tạo điều kiện vệ sinh môi trường, sau đó nhân rộng nhiều khu phố
khác.
Đối với khu phố Pháp bảo tồn cấu trúc đô thị, giảm mật độ xây dựng, không phá
dỡ biệt thự cũ, trả lại nguyên dạng, xóa bỏ các cơi nới xung quanh các công
trình kiến trúc Pháp xây dựng trước năm 1954, không xây dựng xen cấy các công
trình mới đặc biệt là các công trình cao tầng; nâng cấp và trung tu các công
trình hạ tầng kỹ thuật…
2.12. Đánh giá môi trường chiến lược
Các giải pháp nghiên cứu quy hoạch: không gian, giao thông, hạ tầng kỹ thuật…
như đã nêu trên đều đã lồng ghép nội dung nghiên cứu bảo vệ môi trường có tính
chiến lược theo các giai đoan quy hoạch, vì vậy nội dung này không nghiên cứu
tách riêng.
Hà Nội mở rộng hiện nay đang phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường bức xúc
như: ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ – Đáy, suy thoái tài nguyên nước mặt,
nước ngầm, ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải, khí thải từ sinh hoạt,
sản xuất và giao thông đô thị, suy giảm các hệ sinh thái, tai biến môi trường
và ngập úng…
Bảo vệ môi trường thủ đô Hà Nội cần được giải quyết bằng nhiều giải pháp tổng
thể, đồng bộ nhằm: kiểm soát ô nhiễm các khu vực phát triển, xử lý các cơ sở
gây ô nhiễm, xử lý triệt để chất thải rắn, lỏng, khí, đảm bảo chất lượng không
khí trong lành, phục hồi môi trường nước các dòng sông ô nhiễm, cải thiện chất
lượng nước, cải thiện và sử dụng bền vững tài nguyên đất, giảm thiểu tai biến
môi trường, hạn chế thiên tai lũ lụt, bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo vệ rừng,
các thảm thực vật, bảo vệ phát triển các hệ sinh thái tự nhiên… đồng thời đảm
bảo các điều kiện xã hội đặc biệt tại các khu nghèo đô thị, khu tái định cư,
vùng ven đô.
Nghiên cứu đánh giá môi trường chiến lược cho thấy quy hoạch chung xây dựng thủ
đô Hà Nội sẽ góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm và
suy thoái môi trường cũng như cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường sống
trong quá trình phát triển đô thị hiện nay và trong những năm tới. Những định
hướng lớn trong quy hoạch như: phát triển “cân bằng” dựa trên bảo tồn, xây dựng
“thành phố xanh”, phát triển đô thị theo mô hình đô thị trung tâm và năm đô thị
vệ tinh, di chuyển các khu công nghiệp cũ, các cơ sở giáo dục, y tế ra khỏi nội
thành… về tổng thể đều phù hợp về với mục tiêu bảo vệ và cải thiện môi trường
của thủ đô hiện nay. Để bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện quy hoạch,
cần thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ môi trường trọng tâm theo 7 khu vực như sau:
- Bảo tồn, cải thiện môi trường: Khu vực lõi đô thị trung tâm từ phía Nam sông
Hồng đến vành đai 2.
- Xử lý, phục hồi môi trường: Các khu dân cư, khu công nghiệp cũ phía Nam đô
thị trung tâm từ vành đai 2 đến vành đai 3.
- Kiểm soát, khống chế ô nhiễm môi trường đô thị: Vùng đô thị lõi mở rộng từ
sông Nhuệ đến vành đai 4 và Khu vực đô thị mới Hòa Lạc, Gia Lâm, Đông Anh, Sóc
Sơn, Xuân Mai, Mê Linh, Phú Xuyên.
- Phòng hộ môi trường: Vùng vành đai xanh.
- Giảm thiểu rủi ro môi trường: Vùng hành lang 2 bên sông Hồng và hành lang
xanh thuộc vùng xả lũ sông Đáy và sông Tích.
- Bảo vệ hệ sinh thái: Khu vực Ba Vì, Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn, Hồ Tây, Sóc
Sơn, Hương Sơn.
- Kiểm soát, khống chế ô nhiễm môi trường nông thôn.
2.13. Tài chính và quản lý đô thị
2.13.1 Tài chính đô thị
Các nguồn vốn bao gồm: Vốn ngân sách Nhà nước phân bổ cho Thủ đô Hà Nội và Khu
vực phía Bắc Việt Nam, ngân sách Thủ đô Hà Nội và nguồn vốn ODA và FDI cho Thủ
đô Hà Nội. Xây dựng khung hạ tầng kỹ thuật làm đòn bẩy hình thành các đô thị vệ
tinh cũng như các khu đô thị mới. Xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư xây dựng,
khai thác nguồn vốn từ các Chủ đầu tư bằng các cơ chế phù hợp.
2.13.2 Các chương trình và dự án chiến lược
a. Các dự án chiến lược được thực hiện theo các vấn đề sau:
Chiến lược 1: Tăng cường bản sắc, hình ảnh riêng về Thành phố, thiết lập các
trục không gian “mặt nước”, “cây xanh” và “văn hoá”.
Chiến lược 2: Phát triển hệ thống đô thị vệ tinh và đô thị sinh thái có giới
hạn rõ ràng, đáp ứng sự tăng trưởng dân số và việc làm trong thời gian tới của
Hà Nội. Hạn chế sự phát triển loang rộng và thiếu kiểm soát.
Chiến lược 3: Phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, sử dụng giao thông công cộng là
phương tiện chủ yếu để kết nối đô thị trung tâm với các đô thị vệ tinh nhằm đảm
bảo hoạt động kinh tế – xã hội thuận lợi, tính cạnh tranh cũng như bảo vệ môi
trường.
Chiến lược 4: Phát triển hệ thống các trung tâm đô thị hiện đại, có tính cạnh
tranh để thu hút đầu tư đa dạng và chất lượng là động lực chính cho các đô thị
vệ tinh, đóng vai trò tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và hạn chế tốc độ di dân
tới đô thị trung tâm.
Chiến lược 5: Cải tạo và nâng cấp Đô thị lõi lịch sử. Tăng cường kiểm soát
phát triển dân số và các khu xây dựng.
Chiến lược 6: Ngăn ngừa hiểm hoạ thiên tai và các thảm hoạ khác do con người
gây ra.
Chiến lược 7: Gìn giữ, bảo tồn các di sản văn hóa truyền thống
Chiến lược 8: Tăng cường thể chế để quản lý đô thị.
Chiến lược 9: Tạo dựng và tăng cường nguồn lực phát triển đô thị.
b. Các dự án ưu tiên bao gồm hệ thống hạ tầng khung: Giao
thông công cộng; Đường xá; Năng lượng ; Cấp nước; Thoát nước; Thông tin liên
lạc; Chất thải rắn.
2.13.3. Quản lý đô thị
Hình thành Hệ thống Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà nội, cải cách thể chế tạo điều
kiện quản lý phát triển Thủ đô Hà Nội, thiết lập bộ Luật Thủ đô.
Xây dựng quy chế quản lý đô thị, trước mắt là quy chế quản lý đô thị theo đồ án
quy hoạch sau khi TTCP phê duyệt. Sau đó là các bước triển khai quy hoạch chi
tiết. Thành phố Hà Nội cần có các quy chế quản lý đô thị đối với từng khu vực
đô thị và nông thôn với từng tuyến phố.
Xây dựng Chương trình Cải tiến Phát triển Đô thị phù hợp với thực tiễn và hiệu
quả cho quá trình chuẩn bị và quản lý Quy hoạch tổng thể thủ đô Hà Nội bao gồm
nâng cao kỹ năng và kinh nghiệm của các nhà tư vấn quy hoạch, lãnh đạo và
chuyên viên quản lý đô thị.
Hợp tác Quản lý Đô thị giữa chính quyền thành phố với các nhà tài trợ để thực
hiện Hệ thống Quy hoạch Phát triển tổng thể Thủ đô Hà Nội thông qua một cam kết
chung để tham gia chủ động vào Chương trình Cải tiến quản lý Đô thị.
III. KẾT LUẬN
Đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội sẽ được triển khai thực hiện theo các mốc
thời gian như sau:
- Giai đoạn từ năm 2010-2020. Xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật khung, trong
đó ưu tiên xây dựng mạng lưới giao thông công cộng, hạ tầng các KCN, các khu
thương mại đầu mối, hạ tầng các cơ sở trường đại học, các đô thị mới dọc đường
vành đai IV và phía Bắc sông Hồng. Xây dựng HTKT và HTXH đô thị Hòa Lạc.
- Giai đoạn 2020-2030. Tiếp tục xây dựng các hạng mục công trình đã triển khai
trong giai đoạn 2010-2020. Xây dựng các cơ sở hạ tầng xã hội trong các đô thị
mới mở rộng của đô thị hạt nhân và HTKT các đô thị vệ tinh khác. Cải tạo đô thị
lõi lịch sử. Xây dựng hạ tầng khu dân cư nông thôn.
- Giai đoạn 2030-2050. Phát triển hài hòa và tiếp tục hoàn thiện các hạng mục
công trình đã xây dựng trong giai đoạn 2010-2030.
Để tiếp tục triển khai các bước tiếp theo sau Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội,
cần có sự phối hợp của các Bộ ngành và Thành phố Hà Nội và sự ủng hộ của nhân
dân Thủ đô. Hà Nội sẽ trở thành trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa, kinh
tế, giáo dục đào tạo của cả nước và là động lực phát triển cho cả vùng.
(Theo : Hanoi.org.vn )